Giá trị lớn nhất của dự đoán theo Bát Tự Bát Quái là biết được vận thời một năm, mười năm (một Đại vận), các Đại vận thuận lợi hay khó khăn trong cuộc đời và kích hoạt những phương diện có lợi để bổ mệnh. Khi biết trước những xu thế, ta mới có những hành động thích hợp để cải mệnh. Chúng tôi xin minh chứng một lá số với những sự kiện lớn trong đời để bạn đọc tham khảo vậy.
Một người nữ sinh giờ Sửu ngày 22/9/1955 dương lịch. Thai nguyên là Bính tý, Mệnh cung là Quý mùi, Thân cung là Đinh hợi. Lá số như sau:
Lá số kỵ thổ. Bát tự xuất hiện tam hình thổ Sửu Mùi Tuất là xấu, chủ về tật bệnh kéo dài, dễ bị ung thư và tai nạn.
Luận về mẹ sẽ ưu tiên Sao là Thực Thương, Lộc, Ấn phối hợp với Cung vị là trụ năm, trụ tháng. Theo tiêu chí trên, Mùi trong lá số là sao mẹ, Mùi không có hỏa sinh trợ lại gặp tam hình là nguy, trụ năm đại diện từ lúc sinh ra tới trước 18 tuổi, nên mẹ dễ gặp nguy hiểm vào thời gian này. Mệnh cục đi khắc Kim Thủy nên rất sợ gặp Đại vận và Lưu niên phản cục, mật mã nguy hiểm trong mệnh cục là chữ Sửu vì xung Mùi, hình Tuất, bán hợp Dậu là phá Thế cục. Ất là Chính Ấn, Ấn đại diện cho mẹ. Ất bị chi tháng Dậu kim khắc và không có thủy trong Bát tự sinh cho nên sao Ấn yếu, chủ về khắc mẹ. Ất mộ tại Tuất, gặp Đại vận Bính tuất là bất lợi cho mẹ. Khi đến năm Canh tuất là giao của Đại vận Bính tuất và Đinh hợi là Ấn nhập mộ tại Lưu niên và Đại vận, lại bị Canh hợp mất. Theo vòng Thái tuế của Thái Ất thì Đại vận Bính tuất gặp năm Canh tuất phạm Chu Tước gặp Thái tuế là hung. Phục ngâm trụ ngày dễ có tang gia, Tuế vận đồng cung tạo 3 Tuất là có họa. Mùi trong lá số là sao mẹ, Mùi không có hỏa sinh trợ lại gặp tam hình là nguy, trụ năm đại diện từ lúc sinh ra tới trước 18 tuổi, nên mẹ dễ gặp nguy hiểm vào vận Tuất, tức đại vận Tuất, lưu niên Tuất. Tổng hợp năm 1970 mẹ gặp đại hung. Thực tế, mẹ mất vào năm này.
Luận về cha ưu tiên Sao là Tài hoặc Quan với Cung như trên. Dậu là tài, nằm tại chi tháng nên là cha. Bát tự nhiều thổ nhưng Tuất, Mùi là táo thổ nên không sinh trợ cho Dậu kim. Dậu kim bị cô lập bị Tuất hại, Sửu tuy sinh trợ Dậu nhưng Bính Tuất là cường căn nên hình mất Sửu. Khẩu quyết là “Sao thấy mộ, mộ bị hình xung sẽ là tượng tử vong”. Dậu kim mộ tại Sửu nên năm Sửu cũng bất lợi cho cha. Trong Đại vận Đinh hợi và Lưu niên Quý sửu (1973) xuất hiện khắc, hình, hại trên Can và Chi nên cha gặp vấn đề xấu. Theo vòng Thái tuế của Thái Ất thì Đại vận Đinh hợi gặp lưu niên Quý sửu phạm hung tinh Điếu khách, toàn bàn lại gặp các hung tinh Thái tuế, Đại hao, Tang môn, Bạch hổ nên cha đại hung. Thực tế, cha mất vào năm này.
Lá số này lấy thổ làm con, trong đó Mậu là con trai và Kỷ, Sửu, Mùi là con gái. Bát tự sinh nhiều gái hơn trai. Thực tế, mệnh chủ có hai con gái. Thổ là sao con mà lại xuất hiện thổ hình nên các con dễ bị tật bẩm sinh và bất hiếu. Trụ giờ Kỷ sửu Phản ngâm với Mệnh cung là xấu về con cái. Kỷ sửu thuộc vòng tuần thủ Giáp thân, tuần Giáp thân không vong tại Ngọ Mùi. Trong lá số có Mùi nên Thương quan Kỷ lạc Không vong. Thương quan không vong chủ về hôn nhân dễ gặp trở ngại, gãy đổ, khẩu thiệt, sau khi cưới khó được cha mẹ chồng yêu thương, hoặc bất lợi về đường con cái như tổn hại con, bất hòa với con, dễ khuyết thiếu con trai.
Luận về hôn nhân thì lá số lấy Dậu làm Sao chồng, Tuất là cung chồng, Sao chồng hại Cung chồng chủ về ly hôn, hôn nhân không bền vững. Đại vận Đinh Hợi có Đinh cũng là Tuất, Hợi là Sao chồng, Đinh Hợi tự hợp là Sao chồng và Cung chồng cùng động trong đại vận. Lưu niên Quý Sửu có Sửu hợp Dậu, Sửu hình Tuất tức lưu niên hợp Sao chồng và hình động Cung chồng nên sẽ kết hôn vào năm 1973.
Lá số kỵ thổ nên vào vận Kỷ sửu sẽ xấu. Dụng thần, kỵ thần chỉ là một kĩ thuật nhỏ trong dự đoán lưu niên. Để kết luận đại vận này có nguy hiểm không cần xét quy luật Địa chi. Nhật chi Tuất tuyệt mệnh tại đại vận Sửu, nạp âm trụ ngày Tử đại đại vận Sửu, Sửu hình Tuất là phá căn của hỏa (thế cục lá số kỵ gặp thổ ướt). Tổng kết phán đoán, mệnh chủ gặp đại vận Kỷ sửu là cực hung. Luận đoán các lưu niên trong đại vận Kỷ sửu như sau:
- Năm 1992 (Nhâm thân) cùng vận Sửu là phản cục, dễ bị bệnh về hành thủy. Thực tế, mệnh chủ bị bệnh thận vào năm này.
- Năm 1994 (Giáp tuất), có Tuất động cung phu Giáp là Ấn, là giấy tờ, chủ về ly hôn.
- Lá số kỵ thổ ướt nên trong Đại vận Kỷ sửu gặp năm Đinh sửu (1997) là rất nguy hiểm, năm này phạm Thái tuế trùng trùng, toàn bàn gặp các hung tinh Bạch hổ, Tang môn, Thái tuế nên năm này dễ có tang, bản mệnh đa hung vào cuối năm vì trụ giờ phạm hai Thái tuế. Thực tế, tháng Sửu năm Đinh sửu thì mệnh chủ an nghỉ thiên thu.
Người tin mệnh đã ít, người cải mệnh còn ít hơn. Cải mệnh triệt đề cần theo Phật gia, không làm phước thì khó thoát khỏi sự chi phối của âm dương ngũ hành. Người biết Phật pháp mà không dốc lòng tu tập cải mệnh thì thật tiếc lắm thay.
